Nhà khoa học Charles Bonnet, người tiên phong trong nghiên cứu về khoa học tái tạo giác mạc cho các bệnh nhân bị mù. Trong những năm 1740s, Bonnet là một luật sư và luôn yêu thích thiên nhiên và triết học. Ông đã tìm ra những “manh mối” đầu tiên về khả năng tái sinh của tế bào gốc. Nhưng mọi thứ bắt đầy thay đổi với ông vào năm ông 25 tuổi, ông đã bị mù và các nghiên cứu mới của ông bắt đầu từ đây. Ông đã ghi lại tất cả những thay đổi trong cuộc sống của ông từ khi bị mất đi ánh sáng, bao gồm những ảo giác đáng sợ mà ông cho là những thay đổi về nhận thức của thị giác, hiện nay được gọi là hội chứng Charles Bonnet. Ông đã cùng những cộng tác viên thân thiết xây dựng một mạng lưới các nhà khoa học hàng đầu trên thế giới và viết hàng trăm bức thư mỗi năm nhằm kêu gọi những đóng góp về khả năng tái tạo lại giác mạc của tế bào gốc. Cho đến thời điểm hiện tại, căn bệnh mất thị lực đã gây những ảnh hưởng sâu sắc về cả thể chất và cảm xúc, giảm chất lượng cuộc sống và cơ hội nghề nghiệp, cơ hội kiếm tiền cho hơn 23 triệu người trên thế giới (Flaxman et al., 2017). Đây cũng chính là những động lực mạnh mẽ để tìm ra những phương pháp mới nhằm tìm lại ánh sáng cho những bệnh nhân khiếm thị hiện nay.

Từ những năm 1960s, các nhà khoa học đã tìm ra căn bệnh suy giảm tế bào gốc vùng rìa giác mạc (LSCD) bẩm sinh hoặc mắc phải đều là nguyên nhân dẫn đến các bệnh viêm loét giác mạc mạn tính, mù kèm theo các triệu chứng như đau mắt đỏ, biến dạng giác mạc. Nghiên cứu về cấy ghép tế bào gốc vào giác mạc đã chứng minh khả năng phục hồi chức năng của 3 lớp tế bào giác mạc: biểu mô bên ngoài, chất nền và nội mô bên trong. Vào những năm 1990s, nghiên cứu đã sử dụng tế bào gốc rìa giác mạc bám vào màng ối đã thành công trên 190 bệnh nhân. Sau hơn 10 năm phát triển lâm sàng, kỹ thuật tái sinh giác mạc đã thành công trên 70% số ca với điều kiện duy trì được ít nhất 3% số lượng tế bào gốc rìa giác mạc khi kiểm tra biểu hiện với p63 transcription factor. Tuy nhiên chỉ có khoảng 7% số ca bị mắc được tiếp cận với việc cấy ghép giác mạc. Một bước tiến mới trong công nghệ cấy ghép giác mạc đó là thay vì sử dụng các tế bào rìa giác mạc, các nhà khoa học tìm ra phương pháp ghép MSCs (MSCs) tự thân để tăng sinh cho chúng. Việc phục hồi lại các tế bào này nhằm bổ sung thêm số lượng tế bào rìa giác mạc đang suy kiệt. Các nhà khoa học đã cấy ghép mô trong ống nghiệm từ hMSCs vào túi giác mạc của chuột, thành công của thí nghiệm đã mở ra một tiềm năng phẫu thuật thay thế giác mạc cho người bệnh.

Công nghệ tái tạo lại thủy tinh thể sử dụng tế bào gốc cũng là một hướng đi mới, bên cạnh phẫu thuật cắt bỏ đục thủy thể là an toàn và nhanh chóng phục hồi tầm nhìn chức năng của mắt. Ngoài ra, ghép tế bào gốc vào thể thủy tinh rất có thể làm tăng khả năng phục hồi thị lực nhanh hơn so với phẫu thuật, khả năng thích ứng vượt trội và khắc phục được tật viễn thị trong tương lai. Liệu pháp tế bào gốc giúp phục hồi chức năng cho bệnh nhân bị tăng nhãn áp và hỗ trợ bảo vệ dây thần kinh thị giác khỏi bị tổn thương thêm. Trong tương lai, các nghiên cứu tiền lâm sàng trong cấy ghép tế bào gốc sẽ giúp chúng ta lập được phạm vi an toàn và tiềm năng hoạt động của chúng cũng như làm rõ hơn cơ chế sinh bệnh để chuyển sang thử nghiệm lâm sàng trên bệnh nhân bị tăng nhãn áp.

Bài viết được đăng tại:

Jeffrey H. Stern, et al (6/2018), “Regenerating Eye Tissues to Preserve and Restore Vision”, Cell Stem Cell, 22(6), p. 834 – 849.

https://www.cell.com/cell-stem-cell/fulltext/S1934-5909(18)30231-5

Nguồn cho bài viết:

  1. Zhang Y, et al (2018), “Observation of corneal transplantation in peripheral corneal disease postoperatively”, Exp Ther Med., 15(6), p. 5384 – 5388.

https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/29904417

  1. Ryuhei Hayashi, et al (2017), “Coordinated generation of multiple ocular-like cell lineages and fabrication of functional corneal epithelial cell sheets from human iPS cells”, Nature Protocols, 12, p. 683–696.

https://www.nature.com/articles/nprot.2017.007

  1. Ryuhei Hayashi, et al (2016), “Co-ordinated ocular development from human iPS cells and recovery of corneal function”, Nature, 531, p. 376–380.

https://www.nature.com/articles/nature17000